Home Blog Page 4

Vai trò của việc bôi trơn

0

Vai trò của việc bôi trơn

Chất bôi trơn là một loại chất liệu được dùng để bôi trơn cho các động cơ hoặc bộ phận, ví dụ như dầu hoặc mỡ. Chức năng của chúng là làm giảm độ ma sát giữa các mặt phẳng tiếp xúc lẫn nhau, và điều này sẽ giúp làm giảm nhiệt độ do hoạt động di chuyển của bề mặt. Và dưới đây sẽ là những chức năng chính của các chất bôi trơn.

Hạn chế các tiếp xúc vật lí giữa các phần di chuyển

Chất bôi trơn trở thành một lớp bảo vệ, nó giống như một rào cản vật lý chia rẽ các phần di chuyển. Việc làm này mang lại lợi ích là làm giảm đi lượng ma sát và hư hại bề mặt và đồng thời cũng làm giảm đi lượng nhiệt tạo ra , âm thanh và những rung lắc khi hoạt động.

Hạn chế ma sát

Ma sát giữa chất bôi trơn và bề mặt sẽ được hạn chế đáng kể khi so với ma sát giữa bề mặt với bề mặt. Do đó việc sử dụng chất nôi trơn làm giảm đi ma sát của toàn bộ hệ thống giữa bề mặt tải bánh răng , nó sẽ giúp làm giảm nhiệt lượng tỏa ra và giảm những biến dạng của các hạt mài mòn và nâng cao hiệu suất.

Chuyển nhiệt

Chất bôi trơn hoạt động như là một chất xúc tác truyền nhiệt giữa động cơ với một vài buồng đốt nhiệt và hệ thống tản  nhiệt. Chất bôi trơn lỏng giống như dầu động cơ tuần hoàn liên tục tỏng động cơ. Dòng chảy tuần hoàn này sẽ mang nhiệt tản mạn của khu vực có nhiệt độ cao cũng như các bề mặt nóng và lạnh, việc này sẽ khiến động cơ mát hơn, hoạt động hiệu quả hơn.

Dọn dẹp các tạp chất, bụi bẩn

Motor-oil

Các chất lắng cặn giống như là cacbon rắn, bã cặn, làm giảm hiệu suất cũng như là tính chính xác của thiết bị. Vòng pit tông sẽ bị đóng cặn và khiến dầu đi  qua bị chặn lại. Chất bôi trơn có thể ngăn chặn được tình trạng này bằng cách cải thiện việc kiếm soát độ nhớt của dầu.

Hệ thống bôi trơn tuần hoàn cũng có thể giúp dọn dẹp chất cặn, hay tạp chất ở bên trong và bên ngoài, chúng phải đi qua một hệ thống đến với một thiết bị loc, và đến đây chúng bị chặn lại và bị loại bỏ ra ngoài động cơ.

Truyền tải năng lượng

Chất bôi trơn giống như thủy lực được sử dụng để truyền tải năng lượng.

Chống lại mài mòn

Chất bôi trơn làm cho các phần chuyển động tách rời độc lập do đó có thể ngăn chặn được việc mài mòn do tiếp xúc kim loại với kim loại. Chất bôi trơn có thể chứa các  yếu tố chông mài mòn cũng như thêm áp lực để tăng khả năng chống lại việc mài mòn và hỏng hóc.

Ngăn chặn ăn mòn và tạo gỉ

Chất bôi trơn có chất lượng tốt là loại có các chất phụ gia thêm vào để hình thành lên các liên kết hóa học với bề mặt chúng giúp loại bỏ việc ẩm ướt và loại bỏ được ăn mòn, và han gỉ. Nó giúp làm giảm việc ăn mòn với các bề mặt min loại và tránh những tiếp xúc giữa những bề mặt và tránh việc ăn mòn bên trong.

Làm giảm chi phí

Chất bôi trơn có chất lượng tốt sẽ giúp hạn chế việc thay dầu điều này giúp tiết kiệm chi phí về khoản vật liệu.

Đá mài và công nghệ mài vật liệu

Đá mài và công nghệ mài vật liệu

i. Vai trò của các máy mài CNC

Thiết bị kỹ thuật và điều khiển kiểm soát trên tất cả các trục, việc sử sụng điều khiển CNC giúp kiểm soát hoạt động của máy mài, giúp làm giảm thời gian thiết lập tăng uyển chuyển và năng suất dẫn đến đảm bảo được về chất lượng. CNC còn giúp mở rộng nhiều hình dạng chỉ 1 lần thiết lập có thể thực hiện được nhiều quá trình

ii. Đá mài

Là bộ phận không thể thiếu của máy mài CNC, để kiểm tra đá mài có tốt hay không trước hết hãy kiểm tra bằng mắt thường sau đó kiểm tra âm thanh, âm thanh trong tức là đá tốt. Đương nhiên là đá mài thì giúp mài mòn những phần không mong muốn, làm vật liệu nhẵn và đẹp mắt hơn . Tuy nhiên có những phần phoi còn “ ngoan cố” ở trên vật liệu ngưởi ta buộc phải sử dụng những vật liệu mài kim cương, và thay vì phải sử dụng trực tiếp đến bàn tay con người thì hiện nay đã có quy trình sửa đá mài tự động. Nguyên tắc là “ bước sửa nhỏ”.BẠN HÃY XEM VIDEO đế có thể hiểu rõ về nguyên tắc này.

Và quan trọng là phải luôn có là kiểm soát ma sát, nó được kiểm soát bằng dung dịch bôi trơn trong quá trình mài. Tác dụng của nó là giúp giảm nhiệt độ và thoát phoi ra khỏi phần mài và giữ nhiệt độ ở vùng mài luôn ổn định.

Dung dịch mài bao gồm:

–          Nhũ tương

–          Bôi trơn tổng hợp

–          Dầu mài

Hãy xem thêm video để nắm bắt được tác dụng của đá mài và công nghệ mài vật liệu các bạn nhé!
[youtube http://www.youtube.com/watch?v=tkNfiKpmgUw&w=640&h=360]

Quy trình gia công tia lửa điện

Quy trình gia công tia lửa điện là gì?

Để tìm hiểu về gia công tia lửa điện (EDM) ta phải hiểu các thao tác loại bỏ kim loại như thế nào?

Alabama Laser - Hot Wire Laser Cladding(1)

  • Quy trình phóng điện trong quá trình ăn mòn
  1. Xung điện một chiều tiếp xúc với điện cực và chi tiết
  2. Xuất hiện điện trường giữa điện cực và chi tiết
  3. Điện trường hút các tạp chất
  4. Thông qua các tạp chất hình thành nên các cầu nối dẫn điện thông qua các khe hở
  5. Điện thế tăng sẽ khiến cho vật liệu trong cầu dẫn điện nung nóng
  6. Nhiệt độ vật liệu tăng, ánh sáng tăng dẫn tới xuất hiện tia lửa điện→ một phần vật liệu bị nóng chảy và bay hơi
  7. Xung điện kết thúc dẫn đến việc phóng điện và gia nhiệt ngưng lại
  8. Dung dịch điện môi đỏ vào khe hở

Khi gia công có thể nhìn thấy những lớp phôi bám trên bề mặt gia công

Khi vật liệu nóng chảy sẽ hình thành nên ba lớp trên bề mặt của phôi : lớp trên cùng, lớp trắng, và lớp ủ

Ngoài gia công kiểu EDM còn có gia công kiểu RAM: loại gia công này giúp cho việc tạo ra những lỗ trống phức tạp và nhiều hình dạng phôi đa dạng hơn.

Hệ thống này có 4 hệ thống con bao gồm:

  1. Hệ thống nguồn
  2. Hệ thống điện môi
  3. Hệ thống điện cực
  4. Hệ thống servo

Trong bốn hệ thống con còn hệ thống EDM cắt dây (CNC) hệ thống này gồm

  1. Hệ thống nguồn
  2. Hệ thống điện môi
  3. Hệ thống cấp dây
  4. Hệ thống định vị

Các bạn hãy xem kết hợp với video để có thể hiểu kĩ hơn về gia công tia lửa điện nhé !
[youtube http://www.youtube.com/watch?v=ACkypPgCjtY&w=640&h=360]

Nguyên lí và cấu tạo của máy biến thế (transformer)

0

1. Máy biến thế là gì?

Máy biến thế là một loại máy đa dụng vì nó có thể làm tăng hiệu điện thế cũng như làm giảm hiệu điện thế.

Khi dòng xoay chiều chiếm được nhiều ưu thế hơn dòng một chiều( cuối thế kỉ thứ 19), một trong những yếu tố tạo ra ưu thế đó chính là nhu cầu đặt ra phải làm tăng hoặc giảm hiệu điện thế của hệ thống nguồn để hệ thống làm việc hiệu quả hơn và an toàn hơn. Và đây không phải là vẫn đề dễ dàng đối với dòng một chiều. Nhờ có từ trường biến thiên mà dòng xoay chiều có thể cho phép máy biến thế thay đổi điện áp theo nhu cầu của hệ thống.

2. Máy biến thế hoạt động như thế nào?

Máy biến thế bao gồm hai bộ cuộn dây. Mỗi cuộn dây được coi là một cuộn cảm. Dòng xoay chiều sẽ đi vào một cuộn cuộn này gọi là cuộn sơ cấp. Cuộn dây còn lại được gọi là cuộn thứ cấp và nó đặt gần cạnh cuộn sơ cấp , nhưng dòng điện không đi qua đó.

Dòng xoay chiều đi qua cuộn sơ cấp tạo ra một từ thông biến thiên và một vài trong số chúng liên kết với cuộn thứ cấp và và tạo ra một hiệu điện thế đi qua đó. Độ lớn của hiệu điện thế là tỉ lệ giữa số vòng của cuộn sơ cấp với số vòng của cuộn thứ cấp.

308ecm18fig1

Winding polarity: cực của cuộn dây

Primary current: dòng của cuộn sơ cấp

Primary circuit: mạch cuộn sơ cấp

Magnetic flux: từ thông

Secondary current: dòng cuộn thứ cấp

Secondary circuit: mạch cuộn thứ cấp

Iron core: lõi thép

 

Để tối đa hóa dòng từ thông đối với mạch thứ cấp, người ta sử dụng một lõi sắt để tạo ra đường đi có từ trở thấp cho từ thông đi qua. Cực của cuộn dây mô tả hướng đi trong đó cuộn dây quấn quanh lõi. Cực sẽ xác định liệu từ thông được sản xuất ra bởi một cuộn dây là cực âm hay dương tương ứng với từ thông được tạo ra từ cuộn còn lại.

3. Các loại máy biến thế

Máy biến thế ba pha

Máy biến thế ba pha bao gồm 3 cuộn dây sơ cấp, mỗi cuộn tương ứng với một pha, và ba cuộn dây thứ cấp quấn quanh một một lõi thép giống nhau. Máy biến thế một pha riêng biệt có thể được sử dụng và liên kết ngoại vi với nhau để tạo  ra được năng suất tương tự như máy biến thế ba pha.

Cuộn thứ cấp liên kết lại với nhau theo một vài cách, hai cấu hình phổ biến nhất là kiểu tam giác, trong đó cực cuối của cuộn dây này thì nối với vô cực của điểm cuối tiếp theo, và kiếu chữ Y, trong đó ba điểm cuối vô cực hoặc có cực sẽ được nối chung một mạch với nhau. Cuộn thứ cấp cũng được nối theo cách tương tự. Điều này có nghĩa là một mạch ba pha có thể có cuộn sơ cấp và thứ cấp nối theo cách ( tam giác-tam giác hoặc chữ Y-Y), hoặc xếp theo loại xen kẽ ( tam giác- chữ Y hoặc chữ Y- tam giác).  Việc ghi nhớ hình dạng sóng của cuộn thứ cấp trong pha với hình dạng sóng của cuộn thứ cấp khi cuộn thứ cấp và cuộn sơ cấp nối với nhau theo cách giống nhau là rất quan trọng. Điều kiện này gọi là “ không chuyển pha”. Nhưng khi cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp  nối theo cách khác nhau, dạng sóng hiệu điện thế của cuộn thứ cấp sẽ khác với dạng sóng của hiệu điện thế ở cuộn thứ cấp ở mức khoảng 30 độ. Cái này thì được gọi là chuyến pha 30∞. Khi mà hai biến thế được mắc song song thì việc chuyển pha phải được xác định, nếu không xác định được thì hiện tượng đoản mạch sẽ xảy ra khi máy biến thế được kích hoạt.

 Máy biến thế tự động

Một máy biến thế tự động là loại biến thế mà có sự liên kết giữa cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp. Máy biến thế tự động có công suất MVA nhiều hơn/ trọng lượng của lõi sắt và cuộn dẫn điện của lõi dây hơn là máy biến thế năng lượng thông thường, nhưng bị hạn chế một tỉ lệ nhỏ- lí tưởng là 2:1.

Mặc dù thiết kế khác nhau nhưng về nguyên lí hoạt động cơ bản thì vẫn tương tự như nhau.

Các loại máy biến thế đặc biệt

Các loại máy biến thế đặc biệt có nhiều hơn hai cuộn dây trên một pha. Những thiết kế này giúp làm giảm đi mức độ dòng sai. Các loại máy biến thế khác  được xây dựng vận hành ở mức hiệu điện thế tương đối thấp nhưng ở cường độ tương đối cao. Máy biến thế lò hồ quang điện thì thuộc nhóm này và  nó có tỉ lệ cường độ dòng điện vượt quá 150,000A. Máy biến thế điều biến giúp cho duy trì hiệu điện thế của cuộn thứ cấp trong một giới hạn cụ thế  như là giao động của nguồn thứ cấp. Máy biến thế có thể lắp đặt để chuyển pha trong giới hạn cụ thể để kiểm soát dòng của năng lượng thực tế trong hệ thống mạng lưới điện.

 

 

Than đá và năng lượng nhiệt điện

Vai trò của than đá đối với việc sản xuất năng lượng điện

Than đá đóng vai trò quan trọng đối với việc sản suất điện trên toàn thế giới. Các nhà máy sản xuất nhiệt điện hiện tại chiếm tới 41% năng lượng điện toàn cầu, ở một vài các quốc gia, nhiên liệu than đá được sử dụng cho sản xuất điện chiếm tỉ lệ lớn.Trong cuộc sống hiện đại ngày này thật không thể tưởng tưởng nổi điều gì sẽ xảy ra khi không có điện.Điện thắp sáng bóng đèn, các tòa nhà, đường phố và cung cấp lượng nhiệt cho các hộ gia đình cũng như các khu công nghiệp và là nguồn năng lượng chính cho hầu hết các thiết bị trong nhà, văn phòng, và trong các nhà máy xí nghiệp. Việc mang điện về nhiều khu vực xa xôi hẻo lánh trên toàn thế giới là một điều trọng yếu để góp phần xóa đói giảm nghèo.

Than đá sản xuất ra điện như thế nào?

Than lò hay còn được biết đến là than nhiệt được sử dụng làm nhiên liệu để tạo ra điện. Than đá trước tiên sẽ được nghiền thành bột mịn, việc này sẽ giúp làm tăng diện tích bề mặt và làm tốc độ cháy. Trong hệ thống lò đốt than , than đá bột sẽ được thổi vào trong buồng đốt của lò hơi, tại đây than đá cháy ở nhiệt độ cao. Luồng khí nóng và nhiệt năng tạo ra sẽ chuyển nước trong đường ống nối với lò hơi thành hơi nước.

 

1. Coal: than đá

2. Boiler (furnace): lò hơi

3. Steam: hơi nước

4. Condenser cooling water: lượng nước mát ngưng tụ trong giàn ngưng

5. Condenser: giàn ngưng

6. Transformer: máy biến thế

7. Generator: máy phát điện

8. Transformer line: đường dây chuyền tải

Hơi nước mang áp suất cao đi qua tua bin , hơi nước đẩy cánh quạt làm trục của tua bin quay với tốc độ cao. Máy phát điện( bao gồm cuộn dây quấn) gắn với phần cuối của trục tua bin. Khi xuất hiện từ trường lớn, cuộn dây quay quanh một từ trường sẽ xuất hiện dòng điện chạy qua.Sau khi đi qua tua bin, hơi nước sau đó sẽ ngưng tụ lại và quy trở lại nồi hơi để được đốt nóng thêm một lần nữa

Điện được tạo ra sẽ được tăng hiệu điện thế lên ( trên 400,000V) để có thể sử dụng chúng phục vụ cho sản xuất phát triển kinh tế, truyền tải hiệu quả trên mạng lưới điện. Khi gần đến điểm tiêu thụ điện nguồn điện sẽ hạ áp xuống để đảm bảo độ an toàn từ 100-250V được sử dụng trong thị trường trong nước.

Cải thiện hiệu quả sản xuất điện

Việc cải thiện tiếp tục được thực hiện trong đối với việc thiết kế các nhà máy sử dụng lò đốt PCC truyền thống và công nghệ lò đốt mới đang được phát triển. Việc nhiều điện năng được tạo ra từ một lượng than đá ít hơn chính là cách tăng cường tính hiệu quả của các nhà máy phát điện.

Việc tăng cường tính hiệu quả này còn gớp phần quan trọng giảm thiểu phát thải khí nhà kính (CO2). Chỉ cần tăng cường tính hiệu quả 1% sẽ dẫn đến có thể giảm được 2-3% lượng khí thải CO2

huong-dan-cach-phan-biet-than-da

 

1. Coal: than đá

2. Boiler (furnace): lò hơi

3. Steam: hơi nước

4. Condenser cooling water: lượng nước mát ngưng tụ trong giàn ngưng

5. Condenser: giàn ngưng

6. Transformer: máy biến thế

7. Generator: máy phát điện

8. Transformer line: đường dây chuyền tải

Hydroelectric power plant- năng lượng thủy điện

0

Chúng ta làm thế nào để tạo ra điện từ nước?

Thực tế thì năng lượng thủy điệnnăng lượng nhiệt điện sản xuất ra điện theo cách giống nhau. Cả hai trường hợp một nguồn năng lượng được sử dụng để làm quay cánh quạt bộ phận này được gọi là tua bin, sau đó chúng sẽ quay một trục kim loại ở trong máy phát điện một loại motor sử dụng để tạo ra điện. Năng lượng nhiệt điện  sử dụng hơi nước để làm quay tua-bin, ngược lại thì năng lượng thủy điện lại sử dụng sức nước để làm quay tua bin và kết quả đạt được là tương tự.

Sơ đồ đây mô tả  các bộ phận của một nhà máy thủy điện

hydroelectric-power-plant-diagram_65062       

Reservoir: bể chứa

Intake: đường ống vào nước

Control gate: cổng điều khiển

Penstock: ống dẫn nước

Turbine: tua-bin

Outflow: đường ống thoát nước

Power line: đường dây truyền tải

Power house: trạm điện

Transformer: máy biến thế

Generator:máy phát điện

Dam: đập

 

Theo lý thuyết là xây dựng đập chặn trên một con sông lớn. Đập được sử dụng để dự trữ nhiều nước vào trong một bể chứa lớn. Gần dưới đáy của đập là chỗ cung cấp nguồn nước đầu vào. Lực tạo ra ra dòng thác đổ từ ống dẫn nước vào đập. Cuối đường ống dẫn nước là tua bin, chúng sẽ quay do có tác động của dòng nước chuyển động. Trục từ tua bin gắn với máy phát điện  và chúng sẽ tạo ra điện. Dây chuyền tải điện sẽ nối với máy phát điện để mang điện về các hộ gia đình. Nước tiếp tục đi qua kênh thoát nước ở đằng sau đập. Cách này  thì không phải là cách hay để sử dụng được nguồn nước hợp lý khi nguồn nước thoát ra ngoài.

Sơ đồ này sẽ giải thích cụ thể nguyên lí họat động của nhà máy thủy điện

Tua bin thủy lực sẽ chuyển đổi năng lượng thế năng thành cơ năng . Máy phát điện sẽ chuyển đổi cơ năng thành điện năng. Hoạt động của máy phát điện dựa vào nguyên lí do nhà bác học Fa-ra- đây phát hiện ra. Ông phát hiện ra rằng khi từ trường chuyển động trong một một vật dẫn điện sẽ tạo ra một dòng điện chạy quanh nó.Đối với máy phát điện cỡ lớn, nam châm điện sẽ được tạo ra bằng cách cho dòng điện một chiều đi qua các vòng dây quấn quanh các lá thép từ. Đó được gọi là cực từ và được gắn ở bên ngoài rotor. Rotor được gắn vào trục của tua bin và chúng quay với tốc độ có định. Khi rotor quay nó tạo ra cực từ di chuyển qua vật dẫn điện gắn với stator. Và lần lượt theo thứ tự sẽ tạo ra điện có hiệu điện thế  tăng lên ở đầu ra của máy phát điện.

Dự trữ nước: sử dụng lại nguồn nước cho những ngày nhu cầu sử dụng điện tăng cao

Nhu cầu sử dụng điện không ổn định, nó thường xuyên thay đổi. Nhu cầu có thể tăng cao hoặc giảm xuống tùy theo từng ngày, và thường thì ban đêm nhu cầu sử dụng điện sẽ ít hơn đối với các hộ gia đình, và doanh nghiệp.

Năng lượng thủy điện cung cấp năng lượng trong khi nhu cầu sử dụng điện vào thời điểm gian cao điểm trong một thời gian ngắn một cách hiệu quả hơn so với nhiên liệu hóa thạch và năng lượng hạt nhân, một trong những cách thực hiện  việc này là sử dụng nước dự trữ, việc này sẽ giúp tận dụng lượng nước tương ứng nhiều hơn một lần.

Bơm nước dự trữ là phương pháp giữ nước để phục vụ khi nhu cầu về tiêu thụ năng lượng lên tới đỉnh điểm , việc bơm nước sẽ từ tua bin chảy ngược bể dự trữ khi các hộ tiêu thụ điện ít, chẳng hạn vào lúc nửa đêm. Sau đó, khi nhu cầu sử dụng điện tăng cao, thì nước lại được quay ngược trở lại làm quay tua bin và tạo ra điện.

Bể chứa đóng vai trò như là ắc quy dự trữ năng lượng khi nhu cầu sử dụng năng lượng điện thấp và cung cấp lượng điện tối đa khi vào nhu cầu tiêu thụ điện cao điểm. Ưu điểm của phương pháp này là lượng điện tạo ra  có khả năng điều chỉnh tăng áp hay hạ áp nhanh chóng tại đẩu ra của máy phát điện. Chúng hoạt động hiệu quả trong vòng một giờ hoặc vài giờ. Bởi vì bể chứa thường tương đối nhỏ, chi phí xây dựng thấp hơn so với các phương pháp sản xuất điện truyền thống.

nguồn tham khảo: http://water.usgs.gov/edu/hyhowworks.html

quy trình dập liên hoàn- dập tấm kim loại

0

Gia công kim loại tấm là lĩnh vực có tương lại triển vong trong tương lai tỏng đó phải kể đển dập khuôn kim loại tấm. Và để việc dập khuôn đạt được hiệu quả và đạt được mục đích của người dùng thì yếu tố quan trong nhất là yếu tố tạo hình.

Để làm lên được yếu tố tạo hình thì cần phải cân nhắc tới yếu tố biến dạng. Có các loại biến dạng cơ bản Uốn, vuốt, dập. Từ đây họ tìm ra được các yếu tố ảnh hưởng như sau:

Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo hình

  • Tính dẻo của kim loại
  • Kiểu dáng khuôn
  • Máy dập
  • Tốc độ dập
  • Bôi trơn
  • Cơ chế cấp kim loại
  • Hệ thống kiểm tra kim loại dùng để đảm bảo an toàn và đồng bộ quy trình

Sauk hi xác định được các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tạo hình, để có thể thực hiện được đúng quy trình dập khuôn ta cần phải biết chúng gồm những quy trình nào?. Chúng bao gồm 5 quy trình cơ bản đó là:

Quy trình dập khuôn cơ bản bao gồm:

  1. Cắt
  2. Uốn
  3. Tạo hình
  4. Dập
  5. Ép

Có hai loại khuôn chính để thực hiện được việc dập khuôn đó là:  khuôn cắt và khuôn tạo hình

Trong video này họ chia nhỏ từng quy trình trong quy trình dập khuôn, và định nghĩa cũng như là mô tả từng quy trình một cách chi tiết và bài bản. Ví dụ như

Eg. Quy trình cắt bao gồm:

  1. Cắt
  2. Dập cắt
  3. Đục lỗ
  4. Gọt

Tiếp đến video đi tới quy trình phổ biến thực hiện trên máy dập chúng bao gồm: dập, uốn, tạo mép, gấp mép,

Và cuối cùng  người nói tập trung vào giả thích từng quy trình và chú ý đặc biệt tới các yều cầu, các yếu tố để thực hiện quy trình để đạt được tấm kim loại đạt được yêu cầu mong muốn.

Polime (polymer) là gì?

0

Polime là gì?

Nếu bạn đã từng làm một dải giấy dài , thì bạn cũng vừa được chứng kiến tận mắt hình ảnh của cua polymer. Thuật ngữ này bắt nguồn từ một từ Hi Lạp “ poly” có nghĩa là rất nhiều và “meros” có nghĩa là “phần”. Ghép lại với nhau ta được “ nhiều phần”. Polime được hiểu đơn giản là các chuỗi dài rất nhiều phân tử nhỏ liên kết lại với nhau và cấu thành nên, các phân tử này được gọi là mo-no-me.

Mảnh giấy dài là một hình ảnh minh họa đơn giản về polime, tuy nhiên trong các ứng dụng thực tế chúng được sử dụng rất nhiều. Chúng là thành phần cấu hành nên nhiều vật dụng được sử dụng hàng ngày : thùng chứa, túi nilon, lốp xe và còn nhiều hơn thế.

0-f5eac

Để tìm hiểu được về po-ly-me trước tiên chúng ta cùng đi tìm kiểu về mo-no-me, là một đơn phân tử, có khả năng liên kết với ít nhất là hai đơn phân tử khác. Quát trình chúng liên kết lại với nhau gọi là quá trình polime hóa, trong đó hai phân tử riêng lẻ của hai loại giống hoặc khác nhau kết hợp lại với nhau và chúng có chung một cặp electron. Thể thống nhất này hình thành lên một liên kết cộng hóa trị.

Khi các mo-no-me liên kết với nhau thông qua quá trình hình thành lên các liên kết cộng hóa trị, chúng hình thành lên các phân tử lớn hơn gọi là polime. Thuật ngữ Polyme không thể hiện số lượng đơn vị phân tử, nó chỉ thể hiện số lượng phân tử nhiều hơn một.

Số lượng liên kết do các phân tử tạo thành sẽ quyết định tới cấu trúc hóa học của po-ly-me. Nếu liên kết một mo-no-me với hai phân tử khác , thì kết quả sẽ là cấu trúc dạng mắt xích. Nếu liên kết từ ba hay nhiều hơn ba phân tử thì sau đó là liên kết ba cạnh, liên kết chữ thập sẽ được hình thành.

Polime có thể bắt gặp thấy trong tự nhiên, hoặc chúng ta có thể sản xuất chúng.Hai ví dụ phổ biến của poly me tự nhiên là những chất hóa học cơ bản như là DNA và RNA. Các loại poly me tự nhiên khác như lụa, tóc, móng tay, móng chân, xenlulozo, và protein.

Poly me nhân tạo thường ám chỉ tới nhựa, chúng được tạo hình, đúc khuôn theo nhiều hình dạng khác nhau được sử dụng trong các hộ gia đình cũng như theo quy mô công nghiệp. Phần lớn nhựa tổng hợp có nguồn gốc từ dầu petro và các loại khác như ni-lon, poli-etylen, poli-este,….Vật liệu làm bằng nhựa hoặc cao su chúng ta gặp hàng ngày cũng là một dạng của poly me.

Polime ra đời thế nào?

Tổ tiên của polyme nhân tạo quay ngược về khu vực Trung Mỹ, tổ tiên Aztecs, Olmecs và Mayas cổ điển, tất cả tạo nên một dạng của cao su bằng cách kết hợp mủ cây cao su tự nhiên với nước ép của nho . Và họ tạo nên một loại cao su mềm hơn loại mủ cao su và chúng được sử dụng làm dép cũng như vỏ bóng cao su,. Xấp xỉ gần ba nghìn năm kể từ khi Trung Mỹ còn chơi bóng đá, Charles Goodyear đã kết hợp cao su tự nhiên với lưu huỳnh để tạo nên cao su lưu hóa. Và loại chất liệu trùng hợp này vẫn còn phổ biến đến tận ngày nay, bạn có thể nhận thấy tên của Goodyear ở trên các nhãn hiệu lốp xe ô tô.

Khi bạn bắt đầu một ngày làm việc, hãy dừng lại và xem xét toàn bộ cấu trúc xung quanh bạn. Thật khó tin là những thứ như chai nước chanh, vỏ điện thoại, hoặc lốp xe đều là kết quả của sự liên kết giữa các phân tử mo-no-me. “ sức mạnh ở trong những con số , phải không ?

Từ vựng:

  1. Polymer: po –ly-me
  2. Monomer: mo-no-me
  3. Covalent bond: liên kết cộng hóa trị
  4. Polymerization: sự poly-me hóa
  5. Natural latex: mủ cao su tự nhiên
  6. Vulcanized rubber: cao su lưu hóa
  7. Pliable: dễ uốn, mềm dẻo

Nguồn tham khảo: http://science.howstuffworks.com/polymer.htm

Quy trình cắt và uốn tấm kim loại

0

Quy trình cắt và uốn tấm kim loại

Hãy tưởng tưởng bạn dùng dao cắt một miếng thịt thì cần phải có một mặt phẳng và một con dao sắc, thế còn cắt tấm kim loại thì sao?. Bạn đã từng nghĩ để cắt được kim loại thì cần những yếu tố nào chưa?

Cắt tấm kim loại là gì?

Cắt kim loại là việc sử dụng hai lưỡi dao một lưỡi dao cố định và cần phải tính toán được khoảng cách giữa hai lưỡi dao vì nó rất quan trọng trong việc cắt phôi và khoảng cách này có thể điều chỉnh được . Sau hi đã bố trí xong, lưỡi dao tiến vào với nhau đâm xuyên vào miếng phôi khoảng 1/3 độ đày của phôi, còn mức đâm xuyên chính xác phụ thuộc vào độ cứng của vật liệu và khoảng cách chạy dao.

Bên cạnh đó góc nghiêng cũng rất quan trọng, góc nghiêng lưỡi dao dao động trong khoảng từ 1,5-2 độ, góc nghiêng này tập trung lực cắt chính xác trong khoảng diện tích tiếp xúc với hai lưỡi dao, góc nghiêng cũng góp phần làm cho lưỡi dao trên tránh và chạm vào lưỡi dao dưới,  khi cắt vật liệu không bị vướng và hai lưỡi dao.

Uốn tấm kim loại

Vậy còn uốn kim loại thì sao? , uốn kim loại là một phương pháp tạo hình bằng cách làm biến dạng kim loại vượt quá mức giới hạn dẻo; nếu vượt quá mức giới hạn này sẽ làm cho kim loại biến dạng vĩnh viễn những vẫn chưa vượt quá giới hạn bền kéo ( giới hạn mà khiến cho vật liệu bị xé đứt )

Đối với cắt kim loại lực cắt vượt quá giới hạn bền kéo, còn lực uốn nằm giữa giới hạn dẻo và giới hạn bền kéo. Trong video lần này sẽ mô tả chi tiết việc uốn kim loại ra sao , phần nào sẽ bị gập,  phần nào sẽ co lại hoặc giãn ra hoặc không co  lại cũng không dãn ra.

hqdefault

Các thuật ngữ sử dụng trong video:

  1. Blade rake: góc nghiêng dao
  2. Shear angle: góc cắt
  3. Blade/ knife clearance: khoảng chạy dao
  4. Neutral axis: trục trung hòa
  5. Yield point: giới hạn dẻo
  6. Tensile strength : giới hạn bền kéo
  7. Bend allowance: giới hạn uốn
  8. Bend angle: góc uốn
  9. Ben radius: bán kính uốn
  10. Springback: xu hướng phục hồi lại trạng thái ban đầu

[youtube http://www.youtube.com/watch?v=p-hntX7jpUg]

Công nghệ nano (nanotechnology)

0

  Tiềm năng của công nghệ nano

Khi nhắc tới công nghệ Nano, các sản phẩm, các vật liệu và các ứng dụng từ công nghệ Nano thì người ta thường nghĩ  về kỉ nguyên của tương lại thì loại công nghệ này mới thực sự trở nên phổ biến. còn trong ngày nay, công nghệ Nano mới dùng lại ở mức nghiên cứu và phát triển ở mức cơ bản và việc nghiên cứ này mới chỉ đang diễn ra ở các phòng thí nghiệm ở trên toàn thế giới. sản phẩm làm từ công nghệ Nano trên thị trường hiện nay cũng đang dần dần cải thiện được  sản phẩm, ví dụ như ở một vài sản phẩm như ống nano các bon, vật liệu kích thước nano tổng hợp hoặc các hạt Nano trong một chất liệu đặc biệt , chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất. Với nhu cầu là cải thiện các sản phẩm vốn có làm cho chúng nhỏ hơn, vật liệu hoạt động tốt hơn, với chi phí thấp hơn thì các công ty sản xuất sản phẩm Nano sẽ phát triển nhanh chóng và sẽ sớm tạo nên các công ty với nhiều lĩnh vực và nhiều ngành khác nhau. Cuộc cách mạng về công nghệ Nano nên được xem xét đánh giá như một quá trình mà nó sẽ ảnh hưởng dần dần tới hầu hết các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp liên quan.

 Công nghệ nano là gì?

Người ta vẫn còn băn khoăn về việc định nghĩa công nghệ nano. Phần lớn các định nghĩa xoay quanh việc nghiên cứu và kiểm tra một hiện tượng và vật liệu có chiều dài khoảng 100nm và họ thường đem so sánh với sợi tóc người, nó rộng khoảng 80,000nm. Một vài khái niệm thì định nghĩa công nghệ nano là một hệ thống các phân tử và các thiết bị, bên ủng hộ với công nghệ nano thì cho rằng bất cứ định nghĩa nào về công nghệ nano cũng sẽ cần phải bao gồm hệ thống chức năng. Trong một buổi khai mạc về công nghệ nano thiên nhiên, khi 13 nhà nghiên cứu từ rất nhiều các lĩnh vực định nghĩa về công nghệ nano và những phản hồi, từ nhiệt tình cho đến hoài nghi, và phản ảnh rất nhiều khía cạnh.

Và có vẻ như là kích thước của Nano giới hạn trong khoảng 1-100nm, phạm vi ảnh hưởng của công nghệ này khá lớn , nó có thể loại bớt đi đáng kể vật liệu và thiết bị đặc biệt trong lĩnh vực y dược.

Một khía cạnh khác cũng khá quan trọng đối với định nghĩa của công nghệ nano là cấu trúc yêu cầu của công nghệ này là so con người tạo nên. Nếu không thì bạn phải định nghĩa bao gồm cả các hạt vật chất tự nhiên trong việc ảnh hưởng tới các phân tử hóa học và sinh học như là “ công nghệ Nano”

Yêu cầu quan trọng nhất là đặc tính đặc biệt của loại vật liệu này.

Theo viện nghiên cứu quốc gia Mỹ họ định nghĩa công nghệ nano như sau

 Công nghệ nano được hiểu là việc kiểm soát vật chất ở kích thước xấp xỉ từ 1- 100nm, nơi này có chứa các ứng dụng vô cùng độc đáo. Bao quanh các ngành khao học nano, kĩ thuật nano, hay là công nghệ nano, công nghệ nano bao gồm các hình ảnh, đơn vị đo lường, kiểu mẫu, và thao tác vật chất ở phạm vi đó.

Nano mét là 1/1000000 mét. Ví dụ một trang giấy dày  khoảng 100,000 nano met; một nguyên tử vàng có đường kính khoảng 1/3 nm. Kích thước xấp xỉ giữa 1-100 nm thì được gọi là kích thước nano. Những tính chất vật lý, hóa học, sinh học có thể được tích hợp trong kích thước này. Đặc tính này  có thể khác nhau rất nhiều giữa tính chất của vật liệu cỡ lớn và tính chất của đơn nguyên tử, phân tử.

Ngoài ra còn có thêm một định nghĩa khác chúng ta có thể tham khảo;

 Thiết kế, đặc tính, sản xuất, ứng dụng của cấu trúc, thiết bị và hệ thống có thể kiểm soát bằng các điều khiển của kích thước cũng như hình dạng ở kích thước Nano ( kích thước nguyên tử, phân tử, hoặc đa phân tử) nó tạo nên các cấu trúc, thiết bị,và hệ thống có những tính chất đặc điểm ưu việt.